Archive

Posts Tagged ‘Tiếng Việt’

Đọc “Managing for results” của Peter Drucker

Phần I: TÌM HIỂU DOANH NGHIỆP

Chương 1: Thực trạng doanh nghiệp

Một hành vi kinh tế cần thỏa mãn 3 điều kiện sau: (1) Đạt hiệu quả trong hiện tại, (2) Phát hiện tiềm năng cho tương lai, và (3) Hướng đến doanh nghiệp mà nó sẽ trở thành trong tương lai. Để làm được điều đó cần phải đánh giá đúng thực trạng của doanh nghiệp như một hệ thống kinh tế, đánh giá khả năng thực hiện các hoạt động kinh tế của nó và quan hệ giữa các nguồn tài nguyên hiện có với kết quả kinh doanh có thể đạt được.

Doanh nghiệp tuy khác nhau về qui mô, sản phẩm, văn hóa … nhưng đều có chung một thực tế kinh doanh vì các doanh nghiệp cùng chia sẻ những giả thiết và kỳ vọng chung. Những giả thiết chung đó là:

1. Tài nguyên và kết quả kinh doanh đều không do doanh nghiệp làm chủ. Không có cái gọi là trung tâm lợi nhuận trong doanh nghiệp mà chỉ có trung tâm chi phí. Điều duy nhất mà doanh nghiệp có thể chắc chắn về một hoạt động nào đó là nó sẽ phát sinh chi phí, còn việc hoạt động đó có đem lại lợi nhuận cho công ty hay không thì chưa biết được vì điều đó không do doanh nghiệp mà do khách hàng và thị trường quyết định.

2. Kết quả kinh doanh đến từ việc tận dụng cơ hội, không phải từ việc giải quyết khó khăn. Ích lợi lớn nhất từ việc giải quyết khó khăn chỉ là trở về trạng thái hoạt động bình thường hoặc gỡ bỏ những hạn chế để phát triển, tuy nhiên bản thân việc phát triển lại đến từ tận dụng cơ hội.

3. Tài nguyên, do đó nên được ưu tiên dành cho việc phát hiện và tận dụng cơ hội.

4. Hiệu quả kinh tế đến từ vị trí dẫn đầu (trong việc tạo ra giá trị cho khách hàng trong ít nhất là một lĩnh vực), cho nên chỉ có khả năng thôi thì chưa đủ mà khả năng đó phải đạt vị trí dẫn đầu.

5. Mọi vị trí dẫn đầu đều tạm thời và ngắn ngủi.

6. Tất cả những điều đang tồn tại đều đang trở nên lỗi thời.

7. Qui luật 90/10 rất thường xảy ra: 90% kết quả do 10% sự kiện quyết định và thông thường tài nguyên lại được phân phối cho 90% sự kiện còn lại. Doanh thu và chi phí có bản chất hoàn tòa khác nhau, doanh thu tài trợ cho chi phí nhưng chi phí không phải lúc nào cũng mang đến doanh thu.

8. Tập trung là chìa khóa dẫn đến kết quả kinh doanh. Mức độ tập trung càng cao (vào một số ít sản phẩm, thị trường, …) thì khả năng đạt được kết quả càng cao.

Những giả thiết trên cần phải được kiểm tra thường xuyên và đối chiếu với thực tế hoạt động của doanh nghiệp để có những điều chỉnh phù hợp.

Chương 2: Kết quả kinh doanh

Việc phân tích kết quả kinh doanh nên bắt đầu bằng định nghĩa sản phẩm (dịch vụ). Để đánh giá đúng, phải xác định sản phẩm dịch vụ dựa trên đóng góp của nó vào kết quả kinh doanh cuối cùng thay vì chỉ xem xét đến doanh thu bán hàng.  Một sản phẩm/dịch vụ phải được xem xét cùng với thị trường và kênh phân phối đi kèm. Nguyên nhân dẫn đến kinh doanh không hiệu quả thường gặp nhất là sự mất cân bằng trong mối quan hệ: sản phẩm – thị trường – kênh phân phối.  Thị trường và kênh phân phối luôn quan trọng hơn sản phẩm vì chúng nằm ngoài sự kiểm soát của doanh nghiệp. Kênh phân phối luôn thay đổi và thường thay đổi nhanh hơn dự kiến.

Sách kinh doanh

Tôi đọc sách kinh doanh (business) thường xuyên. Đối với loại sách này thì nếu biết Tiếng Anh sẽ không lo thiếu sách hay để đọc. Dù tôi biết Tiếng Anh, nhưng tôi rất vui lòng mua bản dịch Tiếng Việt nếu như chất lượng dịch chấp nhận được vì giá tiền bản dịch rẻ hơn nhiều so với bản gốc. Tuy nhiên, thật đáng tiếc là trong số những người làm sách kinh doanh chưa có thương hiệu nào khiến tôi yên tâm về mặt chất lượng như Nhã Nam đối với sách văn học.

Tôi nghĩ, so với tất cả các loại sách khác thì sách kinh doanh phải phát triển nhất trong hoàn cảnh hiện nay mới đúng. Tôi đánh giá sự phát triển theo các yếu tố: (1) theo kịp thời sự của thế giới (best-sellers) và trong nước, (2) bản dịch có chất lượng và (3) xây dựng tủ sách kiến thức cơ bản một cách hệ thống. Tôi không bàn đến thị trường sách gốc vì điều đó còn khá xa vời. Yếu tố đầu tiên đã được làm tương đối tốt, có lẽ vì nó dễ nhất. Chỉ cần theo dõi phương tiện truyền thông nước ngoài là biết được sách gì đang nổi trên thế giới. Ví dụ gần đây nhất là cuốn Chiến lược Đại Dương Xanh (Blue Ocean Strategy), được giới thiệu ở Việt Nam chỉ sau 17 tháng phát hành lần đầu ở nước ngoài. Việc xuất bản ồ ạt các sách thượng vàng hạ cám về chứng khoán cũng thuộc yếu tố này. Rõ ràng Việt Nam hoàn toàn làm tốt những hoạt động mang tính chụp giựt.

Đối với yếu tố chất lượng bản dịch có lẽ cần phải nói rõ hơn. Không giống như trong văn học là lĩnh vực mà mọi người không thể thống nhất với nhau về tiêu chuẩn của một bản dịch tốt. Đối với một quyển sách về kinh doanh, một bản dịch tốt theo tôi chỉ cần truyền tải đúng ý nghĩa của bản gốc là đủ. Nghĩa của tác phẩm kinh doanh, may mắn thay luôn rõ ràng trừ phi đó là một tác phẩm tồi. Do vậy khi đọc một bản dịch tối nghĩa, tôi không thể không kết luận rằng người dịch không đủ khả năng đọc hiểu bản gốc, nhất là khi bản dịch không tuân thủ cách ngắt câu, ngắt đoạn, thậm chí là bỏ hẳn nội dung trong bản gốc.

Để minh họa, tôi lấy ví dụ của cuốn Khởi thuật do alphabooks dịch từ cuốn The art of the start của Guy Kawasaki. Tôi chọn cuốn này vì đây là một tác phẩm tương đối đơn giản về mặt ngôn ngữ, người dịch không cần phải có kiến thức về chuyên ngành như chứng khoán hay tiếp thị. Tất nhiên để dịch tốt, người dịch cần có hiểu biết về môi trường khởi nghiệp ở Mỹ, nếu có đọc qua các sách khởi nghiệp khác thì càng tốt vì đây chính là điểm khác biệt của Guy Kawasaki. Tuy nhiên ở đây tôi không kỳ vọng một bản dịch hay, tôi chỉ cần một bản dịch đúng là đủ để yên tâm mà đọc.

VD1: Tác giả dẫn một câu thoại trong phim để minh họa về nghệ thuật định vị.

Bản gốc: Dòng 4-12, trang 21
Allow me to introduce myself. My name is Wile E. Coyote . . . Genius. I am not selling anything, nor am I working my way through college, so let’s get down to cases. You are a rabbit, and I am going to eat you for supper. Now, don’t try to get away! I am more muscular, more cunning, faster, and larger than you are . . . and I’m a genius. Why, you could hardly pass the entrance examinations to kindergarten. So, I’l l give you the customary two minutes to say your prayers.
— The Bugs Bunny/Road Runner Movie (1979)

Bản dịch: Dòng 3-5, trang 51
Mới chỉ nhìn thấy chút thành quả đã cho là thành công, đó là kiểu tư duy của những kẻ thất bại.
- A. France

Không hiểu tại sao người dịch lại tự ý đổi câu quote của tác giả thành một câu quote chẳng ăn nhập gì đến chủ đề của chương. Chẳng lẽ alphabooks dịch từ một bản gốc đặc biệt? Có thể lắm vì tôi lại thấy:

VD2: Tác giả quote Aldous Huxly để minh họa cho ý việc định vị phải mang tính cá nhân thì mới thu hút sự chú ý của khách hàng.

Bản gốc: Dòng 14-15, trang 37
To his dog, every man is Napoleon; hence the constant popularity of dogs.

Bản dịch: Dòng 25-26, trang 61
Mỗi người chủ là một Napoleon đối với con chó của mình, cũng đồng nghĩa với người nó rất mực kính trọng và yêu mến.

VD3: Tác giả so sánh sự khác nhau giữa công ty mới thành lập và công ty lớn. Tôi có thể dễ tính đến mức bỏ qua cho phần sau của câu khi người dịch không thèm đá động gì đến cổ phiếu là lý do tại sao người ta chấp nhận làm việc ở công ty mới thành lập. Tôi có thể bỏ qua vì dù sao ý chính tuy không đủ nhưng vẫn chưa đến mức sai. Tuy nhiên dịch “get it” thành “biết chấp nhận” là hiểu sai, “get it” ở đây là “cùng chí hướng”, nghĩa là hiểu, đồng cảm và tin tưởng vào kế hoạch của người sáng lập công ty.

Bản gốc: Cột 3, ô thứ 5 từ trên xuống, trang 23
Sucking in people who “get it” and are willing to risk their careers for stock options

Bản dịch: Cột 3, ô thứ 5 từ trên xuống, trang 43
Tìm kiếm những người “biết chấp nhận” và sẵn sàng đối mặt với rủi ro

Tôi không cố ý tìm lỗi, chỉ thấy khó hiểu nên đối chiếu lại với bản gốc. Đây cũng không phải là kinh nghiệm đầu tiên với các bản dịch của alphabooks. Thú thật là tôi chỉ đọc sách dịch của alphabooks vì vẻ bề ngoài khá là chuyên nghiệp như bìa, in ấn, dàn trang. Nếu chúng cũng xấu xí như các quyển khác thì tôi đã không để mắt đến và tránh được cảm giác không được tôn trọng. Thiết nghĩ nếu đã không có một bản dịch đàng hoàng thì bàn đến việc tổ chức dịch một cách hệ thống là vô nghĩa.

Tôi tin rằng rồi chúng ta cũng sẽ có một đơn vị làm sách kinh doanh chuyên nghiệp, chỉ hy vọng họ xuất hiện sớm để tôi có thể yên tâm mà đọc sách dịch.

FDI

Sài Gòn giờ thấp điểm năm 2005

Cách đây mấy tháng bạn của chồng chuẩn bị đi nhận việc mới ở Ninh Bình. Trong bữa cơm chia tay, anh nói rằng một đồng nghiệp Đài Loan đã cảnh báo anh nên tránh xa bộ phận QC của công ty vì máy móc ở đó có mức phóng xạ rất cao. Người đồng nghiệp kia cũng nói rằng kỹ sư làm việc ở bộ phận này phải chuyển sang bộ phận khác sau một năm nếu không khả năng bị ung thư gần như là chắc chắn.  Mặc dù vậy,  giám đốc công ty không có ý định thông báo điều này với những kỹ sư Việt Nam đang phụ trách công việc này vì chi phí đào tạo cho một kỹ sư mới rất cao. Anh bạn của chồng tôi, cũng giống như các nhân viên khác đến từ công ty mẹ, được cho biết về sự nguy hiểm này và đồng thời được dặn là không được cho nhân viên bản xứ biết.

Trước kia trong quá trình phát triển kinh tế của mình, người Đài Loan đã có nhiều kinh nghiệm tương tự. Giờ đây, các công ty Đài Loan chẳng ngần ngại gì mà không áp dụng bài học đó khi họ không còn phải ở thế yếu hơn trong cán cân thương lượng. Trở lại với anh bạn kia, anh đã đến gặp Giám đốc công ty và đề nghị công ty nên công khai mức độ tổn hại của công việc. Trước nhiều lý lẽ anh đưa ra, ông Giám đốc hứa sẽ cân nhắc lại, không phải vì lý do đạo đức mà vì rủi ro bị phát hiện. Nếu rủi ro bị phát hiện cao và tổn thất phát sinh khi bị phát hiện sau này cao hơn chi phí đào tạo hiện tại thì có thể ông sẽ thay đổi quyết định.

Chắc chắn trường hợp của công ty anh bạn kia không phải là duy nhất. Không cần đến vụ Vedan mà chỉ cần chú ý một chút đến xung quanh chúng ta cũng có thể biết môi trường sống đang bị ô nhiễm. Vấn đề không phải là tẩy chay Vedan hay lên án những người như ông Giám đốc kia. Vấn đề là làm sao để một quyết định có ảnh hưởng đến sinh mạnh của nhiều người như vậy không nằm trong tay chỉ một mình ông Giám đốc.

Update: Anh bạn của chồng đã nghỉ việc. Sau khi vất vả tuyển công nhân cho nhà máy và làm quen với họ, anh được lệnh phải sa thải hầu hết vì ảnh hưởng của khủng hoảng. Anh đã bỏ việc vì không thể đối măt với công nhân.